MẸ LÀ PHẬT
Tác giả: Liên Hương



Mẹ là Phật của đời con
Mà con cứ ngỡ Phật còn đâu xa
Đời Mẹ vất vả buôn ba
Thức khuya, dậy sớm thân già vì con
Chín tháng thai ngén gầy còm
Cơm ăn chẳng đặng, héo mòn xanh xao
Đến ngày sinh nở đớn đau
Thân thể mỏi mệt máu đào chứa chan
Được nghe con trẻ khóc ran
Lòng Mẹ hạnh phúc quên ngàn nỗi đau
Nuôi con Mẹ chẳng than sầu
Dù là đói rách không câu trách hờn
Thương con nào tính thiệt hơn
Mẹ ăn quả đắng, quả thơm con dùng
Mẹ  nằm chỗ ướt quanh năm
Phần con chỗ ráo nghe lòng vẫn vui
Thâu đêm Mẹ chẳng nghỉ ngơi
Làm cơn gió mát cho đời con thơ
Trời lạnh Mẹ hát ầu ơ
Ôm con cho ấm, mắt mờ  vì con
Mẹ con sú nước nhai cơm
Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê
Miếng ngon, miếng ngọt đem về
Mẹ con ăn khổ chẳng hề thở than
Chở che con được bình an
Nâng niu hơn ngọc hơn ngàn báu châu
Dù con Mẹ xấu đến đâu
Mù, câm, đếc, ngọng, vẫn cầu cho con
Bình an, mạnh khoẻ, mãi còn
Lòng Mẹ mãi mãi thương con trọn đời
Tuổi xuân Mẹ đã qua rồi
Vì con mà Mẹ hao rồi sắc hương
Áo quần xộc xệch nát tươm
Tóc tai búi lọn chẳng buồn thả ra
Má hồng Mẹ chẳng thiết tha
Đồ dơ con trẻ giặt mà chẳng than
Lớn lên xa xứ đi làm
Mẹ luôn thương nhớ, khóc than một mình
Sợ con trên bước đăng trình
Không người lo lắng thật tình cho con
Nghĩ mà lòng Mẹ héo hon
Mắt mờ chân chậm chờ con từng ngày
Vì con mà Mẹ chẳng nài
Thân cò lặn lội suốt ngày bôn ba
Bữa ăn vẫn khó kiếm ra
Cho con no dạ việc mà khó sao
Việc ác Mẹ lại đem vào
Nướng, kho sinh vật, nấu, xào con ăn
Tội thì Mẹ gánh vào thân
Vẫn cam nhận lấy để phần con vui
Cho con suốt cả cuộc đời
Nuôi con ăn học nên người nên thân
Lòng Mẹ như biển thái bình
Ân nặng như núi nghĩa tình mênh mông
Với tay hái nụ hoa hồng
Cài lên ngực áo mà dòng lệ rơi
Con trẻ hạnh phúc Mẹ ơi
Vu Lan có Mẹ, rạng ngời lòng con
Vần thơ tặng Mẹ mãi còn
Như lòng con trẻ sắt son ơn Người
Mùa vu Lan đã đến rồi
Nguyện cầu cho Mẹ sống đời bình an.


******

(TPHCM, ngày 07/07/2010)
(Viết tặng Mẹ của con nhân mùa Vu Lan  PL 2554 – DL 2010)
Tác giả : Thanh Hương – PD : Liên Hương



Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ kinh, số 152.

 

Trong một trao đổi với một người Bà-la-môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm chung của tất cả mọi người:
Khi một người mắt thấy… tai nghe… mũi ngửi… lưỡi nếm… thân xúc chạm… hoặc ý suy nghĩ, trong họ sẽ có khởi lên khả ý, bất khả ý, hoặc cả hai khả ý và bất khả ý.
Và có lẽ chúng ta ai cũng đều nhận thấy được việc ấy. Mỗi khi ta tiếp xúc với cuộc sống chung quanh qua những giác quan của mình, lúc nào những kinh nghiệm ấy cũng đi kèm theo với một tâm điệu: dễ chịu, khó chịu, hoặc đôi khi là dửng dưng. Mà bản chất con người của chúng ta được tạo dựng như vậy: cảm thọ là một thực chất của tất cả mọi kinh nghiệm.
Nhưng có một điều là khi đáp ứng lại với cảm thọ này, và cùng khởi lên với nó, đối với những kinh nghiệm vui sướng thì tự nhiên ta cảm thấy hài lòng (khả ý), và gặp những kinh nghiệm đau đớn thì ta cảm thấy không hài lòng (bất khả ý). Và có những trường hợp, cùng một lúc, một kinh nghiệm lại có thể làm ta hài lòng cách này, mà cũng không hài lòng theo cách khác. Chúng ta được tiến hóa từ động vật cho nên trong ta đã nhiễm rất sâu những tập quán và phản ứng lúc nào cũng muốn đi tìm cái vui và lánh xa cái khổ. Và vấn đề của chúng ta nằm ngay ở điểm này.
Chắc chắn là cũng nhờ vào những bản năng sơ đẳng ấy mà chúng ta còn sinh tồn cho đến ngày nay, để phát triển thêm những chức năng khác cao hơn trong bộ óc của mình. Nhưng khoa học ngày nay càng chứng minh cho thấy rằng, những bản năng ấy đã trở thành lỗi thời và đôi khi còn là một trở ngại cho hạnh phúc của ta nữa. Một trong những tuệ giác lớn của Phật là, cái động cơ ham muốn thúc đẩy chúng ta nắm bắt cái này và xua đuổi cái kia ấy lại chính là nguồn gốc của khổ đau!
Mà việc đó cũng tự nhiên thôi, vì bản chất cuộc đời là vậy: khổ đau luôn có mặt. Nếu vậy thì ta có thể làm gì để chuyển hóa được những khổ đau ấy chăng? Và cũng như mọi loài động vật khác, chúng ta cũng được phú thác cho những đức tính bẩm sinh khác như là rộng rãi, thương yêu, dễ thương và hợp tác, chúng giúp ta đối trị và nhiều khi vượt thắng những bản năng ích kỷ thấp kém kia. Quan trọng hơn nữa, chúng ta còn phát triển được thêm phần não thùy trái trước trán (prefrontal cortex), nó cho ta những chức năng như là tự quan sát, tự quán chiếu và chánh niệm. Và đức Phật cũng đã khuyến khích chúng ta nên biết tận dụng những chức năng này. Trong kinh, Ngài dạy tiếp:
Vị ấy thấy rõ như sau: Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta.
Sự ghi nhận ấy mới nghe qua có vẻ rất tầm thường và không có gì đặc biệt, nhưng đó là một bước tiến rất lớn lao. Khi chúng ta biết mang ánh sáng ý thức ấy quay trở vào nội tâm mình, nó sẽ soi sáng tất cả những góc cạnh tăm tối trong tâm thức ta. Khi ta thấy được những gì khởi lên và qua đi trong tâm và thân trong mỗi giây phút, điều đó sẽ giúp cho những kinh nghiệm của ta trở thành một cái gì cụ thể và dễ hiểu chứ không còn là những bí mật, vô hình, hoàn toàn bị điều khiển bởi phần vô thức. Và ý thức chánh niệm ấy tạo một nền tảng tiên quyết, cần thiết để ta bước tiếp một bước chuyển hóa nữa, như theo lời Phật dạy, là thấy được tự tánh của hiện tượng:
“Cái này khởi lên, vì là hữu vi cho nên còn thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là sự buông xả và an tĩnh.”
Cho nên, dầu cho cái khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều sẽ đoạn diệt, chỉ có sự buông xả và an tĩnh là tồn tại.
Nhìn dưới con mắt tuệ giác của đạo Phật thì tất cả mọi kinh nghiệm của chúng ta đều bị chi phối bởi luật nhân quả. “Bất khả ý” khởi lên thật ra chỉ là một trạng thái của ác cảm, nó siết chặt lại chung quanh một cảm thọ khó chịu cùng khởi lên khi ta tiếp xúc với một đối tượng nào đó của giác quan. Thật ra, thái độ ấy chỉ là kết quả của tánh khí ta, tự chúng không gì khác hơn là những tập quán, thói quen phản ứng mà ta đã huân tập qua nhiều đời khi ứng phó với cuộc đời.
Và tuệ giác ấy sẽ mang lại cho ta một sự giải thoát ngay tức khắc. Tâm ta sẽ không còn bị trói buộc bởi ước muốn nắm bắt những gì “khả ý” và xua đuổi những gì là “bất khả ý.” Khi ta hiểu rằng, cảm xúc khởi lên là một chuyện và phản ứng thương ghét của ta đối với nó lại là một chuyện hoàn toàn khác hẳn, sợi dây liên kết nhân quả sẽ bị phá tung và tiếp theo đó là một giây phút giải thoát hoàn toàn.
Trong giây phút đó ta có thể chọn lựa cho mình một cách phản ứng khác. Những khả ý và bất khả ý đã từng mang lại khổ đau có thể được thay thế bằng một cái gì lớn lao hơn, có khả năng dung chứa được hạnh phúc lẫn khổ đau mà không cần phản ứng. An tĩnh nhưng vẫn rất gần gũi với cảm xúc của mình, chúng ta an trú trong giờ phút hiện tại với một nụ cười hàm tiếu của Phật trên môi.
Điều này có thể nghe như một lý tưởng rất xa vời, nhưng đức Phật dạy rằng lúc nào nó cũng có mặt ngay bây giờ và ở đây:
Như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, đó là tốc độ, đó là sự mau chóng, đó là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt, và chỉ có sự an tĩnh tồn tại mà thôi.
Đức Phật nói nghe thật đơn giản làm sao! Chúng ta chỉ cần chuyển đổi thái độ của mình một chút xíu thôi, đơn giản là buông bỏ những thương ghét của mình một chút, cởi mở ra và thật sự tiếp xúc với giây phút này, thay vì là với một kỳ vọng nào đó. Với chánh niệm đầy đủ, hành trình từ khổ đau đến hạnh phúc sẽ xảy ra chỉ trong một chớp mắt.

Andrew Olendzki (trích Đức Phật Bên Trong – Nguyễn Duy Nhiên tuyển dịch)

...Xóa bỏ niệm công danh là không niệm tưởng đến sự nghiệp địa vị, tiếng tăm trong xã hội. “Không chạy theo” là không chen lấn, đấu đá, tranh giành, không xem nó là cứu cánh, là quan trọng, từ đó gắng lo tu tập làm phước lành, ăn chay, phóng sinh, niệm Phật,... đem tất cả công đức hồi hướng cầu sinh về Cực Lạc, vượt thoát sinh tử luân hồi...

 
 
“Gặp thanh, gặp sắc như trồng hoa trên đá,
Thấy lợi thấy danh như bụi rơi vào mắt”.
                                             (Phù Dung Đại sư)
Đại sư Liên Trì (1532 – 1612) là Tổ thứ tám trong Liên Tông, húy là Châu Hoằng, họ Thẩm, tự là Phật Huệ, hiệu là Liên Trì, người ở đất Nhân Hòa. Năm 17 tuổi thi đậu tú tài, đỗ thủ khoa liên tục mấy năm liền, mọi người đều đến nhà Minh Trai tiên sinh chúc mừng rầm rộ, ca ngợi không ngớt lời. Tuy nhiên Ngài rất khiêm hạ, nói rằng: “Đều nhờ vào tổ tiên, ông bà giúp đỡ chứ thật ra chẳng có gì cả!”
Vì chữ hiếu với cha mẹ nên đã ưng thuận chuyện lập gia đình cưới cô vợ họ Trương sinh được đứa con trai tên là Tổ Thục. Khi đứa con được 5-6 tuổi bỗng bị bệnh, thời gian ngắn sau thì chết. Thiếu phu nhân than khóc vô cùng thê thảm, không ăn uống gì, lẩm bẩm suốt ngày, người càng xanh xao gầy yếu rồi chết.
Năm 27 tuổi lại nghe theo lời mẹ cưới cô họ Thang làm vợ. Nào hay năm sau cha là Thẩm Đức tiên sinh quy tiên. Vừa mãn tang của cha thì mẫu thân là Châu Thái Phu Nhân cũng đi theo chồng. Trong vòng 13 năm mà bao tang tương, đắng cay xảy đến. Trải qua bao sóng gió, năm 30 tuổi, Thẩm công tử quyết định tìm hướng đi cho mình và làm bảy bài kệ, cấp tốc tu trì thể hiện qua bài kệ thứ tư - Xóa bỏ niệm công danh:
“Công danh khoa bảng
Riêng chiêm ngao đầu
Vui mừng đắc ý tuổi thanh thu!
Ấn vàng ngời tinh đẩu
Danh đẹp thơm trường cửu
Ối chà chà!
Bao nhiêu thanh thiếu
ngưỡng mong cầu
Tóc xanh thành bạch thủ!
Khi tỉnh giấc hoàn lương
Một tiếng cười khan đời mộng ảo
Bởi thế nên đem,
Quý hiểm công danh xóa sạch làu.”
Xóa bỏ niệm công danh là không niệm tưởng đến sự nghiệp địa vị, tiếng tăm trong xã hội. “Không chạy theo” là không chen lấn, đấu đá, tranh giành, không xem nó là cứu cánh, là quan trọng, từ đó gắng lo tu tập làm phước lành, ăn chay, phóng sinh, niệm Phật,... đem tất cả công đức hồi hướng cầu sinh về Cực Lạc, vượt thoát sinh tử luân hồi.
Người có nhân cách đạo đức lẫn tài năng sẽ thành tựu được các công đức viên mãn. Ngược lại, người thiếu tài đức mà cố mong cầu để có danh, thì khi danh đến họ sẽ đau khổ vì nhân cách đạo đức không đủ để thụ hưởng lợi dưỡng có được. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Nếu một người ngu có tài khéo léo, hay quyền lực sẽ rất tai hại, vì chính hắn sẽ làm khổ hắn”. Thiền sư Vô Tác cũng đã nói: “Phước ít mà của nhiều thì ắt bị của làm tổn hoại; còn đức mỏng mà quyền cao thì quyền chóng thành tai họa”.
Trong lịch sử Trung Quốc, Trụ nổi tiếng hoang dâm, tàn bạo. Khi mới làm vua, ông ta sắm chén ngọc, đũa ngà, xây Lộc Đài (một ngôi nhà to và cao vút để từ trên đỉnh có thể thưởng ngoạn cảnh vật của đất nước), làm nhà bằng vàng - cửa ngọc lớn ba dặm - cao nghìn thước, chứa rượu thành ao, treo thịt như rừng; trong cung lập chín chợ làm nhà nấu nướng, ăn uống suốt đêm, mổ bụng đàn bà chửa, chặt ống chân người già. Khi chú là Tỷ Cang can thì nổi cơn thịnh nộ giết chú để xem quả tim hiền triết như thế nào. Bấy giờ vua Võ Vương bảo các nước chư hầu rằng: “Nhà Ân có tội nặng không đánh chẳng được! Bèn qua phương đông đánh vua Trụ. Trụ chạy lên Lộc Đài mặc đồ châu ngọc tự đốt mình mà chết.
Lược giải Kinh Hoa Nghiêm của Hòa thượng Thích Trí Quảng có đề cập: “Thắng Nhiệt Bà-la-môn dạy Thiện Tài trèo lên núi đao nhảy vào hầm lửa mà không chết, nghĩa là vào đời không bị núi đao danh lợi đâm thủng, không bị lửa tham dục, tình ái đốt cháy. Sống trong hồng trần mà không tham muốn nên hoàn toàn tự tại, được thể hiện qua gương sáng Trần Nhân Nhân Tông xem ngai vàng là chiếc giầy rách muốn bỏ lúc nào cũng được. Danh là ngôi vua, lợi là cung vàng chẳng cần cả hai; nhưng ở lại ngôi vị vì yêu cầu của số đông, không bị hại vì danh lợi, không bỏ nhưng sống cho hợp tình, không bị chúng tác động mới thực sự giải thoát.” Thời đức Phật còn tại thế, có vị trưởng giả Cấp-cô-độc giàu có, danh vọng địa vị như thế nhưng đến khi đã hiểu đạo thì rất kính tin Tam Bảo, lót vàng hết khu vườn để mua đất xây dựng Tinh xá cúng dường đức Phật và chư Tăng.
Đỉnh cao nhất mà đức Phật dạy là “vô danh”. Chỉ có bậc giác ngộ, chánh niệm trong ba nghiệp được viên mãn mới không bị đắm nhiễm, lậu hoặc, phiền não do thất tình lục dục đem lại. Khen thì vui, chê thì buồn; được thì hân hoan, mất thì buồn tiếc, không chấp nhận. Vì còn sự chấp ngã nên còn luẩn quẩn trong vòng đau khổ. Ngũ dục theo thế gian gồm có: tài, sắc, danh, thực, thùy. Danh đứng thức ba trong ngũ dục và chính là mục tiêu phấn đấu của mọi người, luôn mong mỏi và vươn tới.
Phù Dung đại sư có dạy: “ngộ danh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh, như nhãn trung nước tiết” - gặp thanh gặp sắc như trồng hoa trên đá, thấy lợi thấy danh cũng như bụi dính trên con mắt. Lợi danh ta thấy rồi chấp ngã cho là thật, ôm giữ cho nên đau khổ. Bây giờ học Phật rồi biết là giả, huyễn, ảo mộng thì nó đến rồi nó đi, nó vô thường. Như vậy ta không coi nó là của mình thì không sợ mất. Không dính dáng gì mình cả! Như vậy thì giải thoát không bị chúng trói buộc. Vả chăng, “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”, thương hải tang điền, vật đổi sao dời, mọi thứ trong đời sống đều vô thường, giả tạm.
Xóa bỏ niệm công danh không chỉ xóa về thân mà cốt yếu là xóa bỏ về tâm, điều đó mới là quan trọng. Xóa bỏ để quay về bồi dưỡng tâm linh, học và tu theo giáo pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, đạt được tri kiến của Như Lai, sống vô ngã vị tha, hiện tại và tương lai đều được an lạc.
Thiên Ấn

... Biết căn bản và phương tiện Niệm Phật rồi, mới biết đầu tiên từ phàm phu phát tâm trải qua Tam Hiền, Thập Thánh cho đến thành Phật, đều phải niệm Phật, đều do niệm Phật. Bởi vì niệm Phật và chẳng niệm Phật là phân ranh giới giữa Phật và ma, là hai đường tịnh nhiễm. Chẳng những tất cả hữu tình do học Phật để cầu thành Phật đều chẳng rời niệm Phật mà cho đến Đức Phật quá khứ, hiện tại trong khắp mười phương độ khắp chúng sanh cũng chẳng lìa niệm Phật...

Học, lấy Minh tâm làm thiết yếu.

Tu, lấy niệm Phật làm ổn đáng.

Luận Khởi Tín ghi : "Nói Tâm chúng sanh ắt thu nhiếp hết tất cả Pháp thế gian và xuất thế gian".  Vì tất cả Pháp đều do tâm duyên khởi, y trì nơi tâm. Bởi tâm có đặc tính:

1. Có khả năng hoạt động liễu tri.

2. Có khả năng bảo tồn kinh nghiệm (nhận lấy sự huân tập và giữ gìn chủng tử).

Do hoạt động liễu tri nên hay duyên khắp tất cả các pháp hữu vi, vô vi, hữu lậu, vô lậu hiện tiền, Do bảo trì kinh nghiệm nên hay nhớ lại những việc đã qua và suy tưỡng đến cái lý vị lai.

Tứ Thánh, Lục phàm đều từ tâm tạo, mười phương ba đời đều đủ nơi tâm, cho nên Minh tâm thì minh hết tất cả các Pháp. Minh tâm thì minh hết tất cả các Pháp, vì thế Phật tuy nói khắp các Pháp, rộng thì vô lượng vô số, gom lại sơ lược thì ba tạng, mười hai bộ đều chẳng ra ngoài tâm này. Nói về tâm này cũng chính là giảng nói chỗ thiết yếu hơn hết trong tất cả học lý của Phật Pháp. Nếu mình đạt được tâm này thì thấy tất cả sắc đều thấy tâm này, nghe tất cả tiếng đều nghe tâm này. Ba tạng, mười hai bộ, một ngàn bảy trăm công án cũng không phải việc gì khác, cho nên nói: "Pháp giới duy tâm".

Minh tâm tức là minh các Pháp, cho nên tâm không có Thể mà lấy Thể của các Pháp làm Thể. Thể của các Pháp thanh tịnh bổn nhiên Chân biến thường trụ cho nên Thể của tâm cũng thanh tịnh bổn nhiên chân biến thường trụ, Gọi đó là chân như pháp tánh. Tâm không có Tướng mà lấy Tướng của các pháp làm Tướng. Tướng của các pháp hàm dung quảng đại, nhiếp nhập giao la, nên Tướng của tâm cũng hàm dung quảng đại, nhiếp nhập giao la, gọi đó là Như Lai Đức Tạng. Tâm không có mà lấy Dụng của các pháp làm Dụng. Dụng của các pháp chủng tử và hiện hành sanh nhau duyên khởi vô tận cho nên Dụng của tâm cũng chủng tử hiện hành sanh nhau duyên khởi vô tận, gọi đó là nhân quả Thánh phàm.

Thể, Tướng, Dụng của tâm tức là Thể, Tướng, Dụng của tất cả các pháp, cho nên Thể, Tướng, Dụng của tâm không chỗ nào chẳng có, không chỗ nào chẳng đủ, không chỗ nào chẳng quán triệt, không chỗ nào chẳng thông suốt, sở dĩ Thể đại, Dụng đại, Tướng cũng đại mà ở tại người tức là người, chẳng phải tìm cầu ở đâu khác, gọi đó là tâm Phật cũng được, tâm chúng sanh cũng được, gọi đó là tâm người cũng được. Lìa cái tâm hiện tiền mà riêng cầu tất cả Pháp, gọi đó là ngoại đạo. Lìa tất cả Pháp hiện tiền mà riêng cầu nhất tâm cũng gọi đó là ngoại đạo. Tất cả Pháp đều lấy Chân như làm Thể tánh, cho nên Thể tánh của tâm tức là Chân như mà Thánh phàm, nhiễm tịnh, thiện ác, nhân quả đều tịch diệt thường như. Tất cả Pháp đều lấy sanh diệt làm tướng dụng, cho nên tướng dụng của tâm tức là sanh diệt mà Thánh phàm, nhiễm tịnh, thiện ác, nhân quả đều duyên sanh vô tánh. Đây gọi là Nhất tâm Chân như sanh diệt, cũng gọi là Chân như sanh diệt Nhất tâm. Tôi nói:" Lấy Minh tâm làm thiết yếu, ý nghĩa đại khái như vậy”.

Phật hiện thân thuyết Pháp đều vì tất cả các loài hữu tâm ở thế gian mà khai thị ngộ nhập tri kiến Phật, cho nên đều do giải khởi hạnh, do hạnh được chứng. Giải mà chẳng có hạnh thì thành hiểu suông, chứng mà không có hạnh thì không do đâu thật chứng, cho nên nói trong Phật Pháp Tín, Giải, Hạnh, Chứng thì hạnh được trọng hơn hết và không có không được. Nhưng Hạnh môn vô lượng, nói sơ lược thì có tám muôn bốn ngàn Pháp môn đối trị phiền não, cùng với các nghi quỹ trì tụng chân ngôn trong Mật giáo, năm mươi ba vị Thiện tri thức trong Kinh Hoa Nghiêm, mỗi vị do một môn để thành giải thoát, hai mươi lăm vị vô học trong Kinh Lăng Nghiêm, mỗi vị do một môn để chứng viên thông, cho đến Pháp giới quán của Đế Tâm (Đỗ Thuận) chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật của Tổ Đạt Ma và các Pháp quán chung của Đại thừa, Tiểu thừa như: Bất tịnh quán, Từ bi quán, Duyên khởi quán, Sổ tức quán, Niệm Phật quán, v.v... không Pháp nào chẳng phải là diệu môn tu hành, tại sao nay chỉ riêng nói tu hành lấy niệm Phật làm ổn đáng ?

Ở đây, trước hết cần phải biết tông chỉ của Phật pháp, kế đó phải biết Phật nghĩa là gì ?

Phải biết các Đức Phật xuất thế chẳng làm gì khác hơn là chỉ vì tất cả chúng sanh ngu muội không biết mình bổn lai là Phật, cứ mải mê mà bất giác, ở trên tự tâm biến ra các thứ thân căn, cảnh giới, khởi hoặc tạo nghiệp, theo nghiệp lưu chuyển sanh tử luân hồi không dứt, chịu sự nhọc nhằn cay đắng một cách oan uổng, các Ngài nương vào đại bi hoằng nguyện, bày các phương tiện làm cho tất cả chúng sanh đề từ trong tự tâm khai phát vô lượng chánh biến tri, thọ dụng bình đẳng, diệu lạc đồng như Phật, đó là tông chỉ của Phật Pháp.

Kế đó, phải biết Phật chẳng đồng Thiên thần, Địa kỳ, Nhân quỷ, chỉ là người trong chúng ta và tất cả chúng sanh đã thành tựu Vô thượng Biến chánh giác. Chúng ta từ trong Phật Pháp tu hành là phát tâm học Phật thành Phật, chứ không phải phát tâm học Thiên thần, Địa kỳ, Nhân quỷ. Sở dĩ tiêu chuẩn của chúng ta chỉ tại học Phật, mục đích của chúng ta chỉ tại thành Phật, một giây phút nào trong tâm quên học Phật và thành Phật tức là quên đi cái tiêu chuẩn phải nương vào cái mục đích phải đạt đến. Niệm nghĩa là chẳng quên, tâm tâm trì niệm nơi Phật mà chẳng quên thì tự nhiên tất cả các cử chỉ nói năng động tác đều hướng về con đường tu hành mầu nhiệm của Vô thượng Bồ-đề. Tạm thời có giây phút nào quên niệm Phật tức là hốt nhiên bất giác, vô minh tâm động ắt có khổ, tự mê phương hướng, không biết đông tây, dở chân cất bước không biết như thế nào là tốt. Nói một cách khác, một phút giây quên niệm Phật tức là quên tâm Bồ-đề đã phát thì không luận là tu thắng hạnh nào đều chỉ thành nhân quả hữu lậu của Người, Trời, Ma, Phạm và nhân quả của Thanh văn, Duyên giác, quyền thừa. Duy có niệm Phật là có thể tổng trì tất cả thắng hạnh hướng về Phật quả Bồ-đề và khiến cho tất cả sở hành đều hướng về Bồ-đề, tuyệt không sót lọt, tuyệt không có lối tẻ lui sụt, cho nên tu hành lấy niệm Phật làm ổn đáng hơn hết.

Điều vừa nói trên là căn bản niệm Phật. Đức Thế Tôn còn có phương tiện khéo léo, vì thương xót các loài hữu tình tạp tưởng lăng xăng, bị các thứ khổ bứt ngặt, tuy biết cái nghĩa niệm niệm chẳng quên Phật mà chưa có thể thật sự được niệm niệm chẳng quên Phật thân thiết tương ưng, một phen vô thường đến chưa khỏi theo Nghiệp lưu chuyển nên Ngài mới dạy Pháp môn niệm Phật A-di-đà cầu sanh Cực Lạc Tịnh Độ, nhờ nương vào nguyện lực A-di-đà, lâm chung được sanh về Cực Lạc, được cùng Chư Phật, Bồ tát ở chung một chỗ, thắng duyên tăng thượng, làm cho tâm tâm niệm niệm chẳng quên Phật thẳng lên Vô Thượng Chánh Giác, đây là rất ổn đáng trong ổn đáng vậy.

Biết căn bản và phương tiện Niệm Phật rồi, mới biết đầu tiên từ phàm phu phát tâm trải qua Tam Hiền, Thập Thánh cho đến thành Phật, đều phải niệm Phật, đều do niệm Phật. Bởi vì niệm Phật và chẳng niệm Phật là phân ranh giới giữa Phật và ma, là hai đường tịnh nhiễm. Chẳng những tất cả hữu tình do học Phật để cầu thành Phật đều chẳng rời niệm Phật mà cho đến Đức Phật quá khứ, hiện tại trong khắp mười phương độ khắp chúng sanh cũng chẳng lìa niệm Phật. Vì các Ngài đều niệm tất cả chúng sanh bổn lai là Phật, do đó các Ngài mới hiện các thứ thân, nói các thư Pháp để hoá đạo chúng sanh thành Phật. Giả sử các Ngài chẳng niệm tất cả chúng sanh bổn lai là Phật thì chúng sanh vốn chẳng thể thành Phật, lại cần gì phải luống nhọc mà hiện thân thuyết Pháp. Cho nên tự lợi, lợi tha từ đầu đến cuối đều chỉ là một diệu hạnh Niệm Phật mà thôi.

Phật Pháp chẳng phải nói xong là rồi, nghe xong là thôi, mà điều cần nhất là phải từ văn tư tu, dốc lòng học hỏi, nỗ lực tu hành để tự đạt đến.

(Thái Hư toàn thư)

Định Huệ dịch



Sáng ngày 29/04/2013 (nhằm ngày 20/04 năm Quý Tỵ), nhân khóa tu Phật thất 73, chùa Hoằng Pháp đã thực hiện chương trình Hoa Mặt Trời 1 - chủ đề Đến Để Mà Thấy - nhân vật chính là Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Đây là chương trình mới với nhiều thay đổi về nội dung và hình thức nhằm thay thế cho chương trình Phật Pháp Nhiệm Mầu đã có trước đó.
 
Mang những ý nghĩa như chính tên gọi của nó, chương trình Hoa Mặt Trời mang ý nghĩa tôn vinh những con người luôn hướng đến ánh sáng chân lý của đức Phật – như những bông hướng dương luôn hướng về phía mặt trời. Và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một trong những con người như thế. Ông sinh năm 1940 tại Phan Thiết - Bình Thuận, tốt nghiệp chuyên khoa Nhi Đại học Y khoa Sài Gòn 1969, có thời gian tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard - Hoa Kỳ và Giáo dục sức khỏe lại CFES – Paris, đã từng giữ các chức vụ: Trưởng khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Giáo dục sức khỏe TP.HCM và hiện nay là Chủ nhiệm Bộ môn Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe - Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch. Ông được độc giả yêu mến bởi phong cách gần gũi, giản dị và cũng không kém phần dí dỏm qua những tác phẩm viết cho tuổi mới lớn. Ngoài ra, ông cũng viết nhiều tác phẩm nghiên cứu Phật giáo như: Gươm báu trao tay, Như thị, Thấp thoáng lời kinh, Nghĩ về trái tim...
Chương trình được thực hiện dưới hình thức một cuộc trò chuyện thân mật giữa bác sĩ và các Phật tử tham dự thông qua những câu hỏi gợi mở của thầy Thích Tâm Nguyên. Chủ đề “Đến Để Mà Thấy” là câu nói quen thuộc trong kinh A Hàm và kinh Nikaya và cũng là thông điệp mà chương trình Hoa Mặt Trời 1 muốn nhấn mạnh đến quý Phật tử. Người học Phật hãy giáp mặt với sự thật, tự mình chứng nghiệm chân lý, bởi Phật pháp là pháp giác ngộ lẽ thật và sự giác ngộ đó ở trong tâm người chứ không phải trong lý luận, chữ nghĩa. Và “đến” ở đây là đến bằng con đường trí tuệ chứ không phải bằng con đường mê tín. Nghĩa là “đến để mà thấy” và thực hành theo. Theo ý nghĩa đó, dưới góc nhìn của một người làm khoa học, bác sĩ đã chia sẻ về những trải nghiệm về con đường đến với đạo Phật, về y học và thiền, về mối liên hệ giữa thân và tâm trong phương pháp chữa bệnh.
Chương trình diễn ra thành công tốt đẹp trong niềm hoan hỷ của toàn thể quý Phật tử tham dự khóa tu. Để biết thêm về nội dung chương trình, xin mời quý Phật tử xem Video Hoa Mặt Trời 1 – Đến Đến Để Mà Thấy trên website chùa Hoằng Pháp. BBT website sẽ cố gắng cập nhật trong thời gian sớm nhất.
Dưới đây là những hình ảnh ghi nhận trong chương trình:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Ăn chay giữ trọn lời thề.
Niệm Phật tha thiết nguyện về tây phương.
Vãng sanh duy nhất con đường.
Tây Phương Cực Lạc đạo trường bình an


Biển ái sóng bao la
Nhận chìm cả Ta bà
Muốn thoát luân hồi khổ
Phải gấp niệm Di Đà
Nam mô Adida Phật


Nhớ đến Tây Phương giọt lệ tràn
Ta bà đau khổ lắm thương tan
Người ơi xin hãy suy hơn thiệt
Niệm Phật mau đi kẻo lỡ làng


Bớt đi lời nói thị phi
Bớt đi tội lỗi sân si đau buồn
Thêm câu Niệm Phật nhiều hơn
Phước điền thêm lớn tâm hồn thêm vui


Đã biết đời là giả tạo, sao lại còn phiền não ?
Đã biết là phiền não, sao lại còn trói buộc vào ?
Đã biết là trói buộc, sao chưa chịu xả bỏ ?


Đường đời chật hẹp, người chen lấn !
Nẻo đạo thênh thang, chẳng ai cần !


Ở đời khi giận nhớ là
Mất khôn dẫn đến phiền hà tốt chi
Giữ tâm thanh tịnh từ bi
Cuộc đời tạm bợ chuyện chi điên cuồng

Cái gì cũng có cội nguồn
Xét mình trước đã đừng buồn chi ai
Nhũ lòng làm việc chi sai
Theo lời Phật dạy sửa ngay tâm lành

Ði đôi học phải biết hành
Niết Bàn vĩnh cửu đạt thành ước mơ.


"Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên
Đói cứ ăn no, mệt ngủ yên.
Báu sẵn trong nhà thôi chạy kiếm
Vô tâm trước cảnh, hỏi gì thiền"

Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại

Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi
Phải tinh tiến hôm nay
Bỗng ngày mai không kịp
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả

Người nào biết an trú
Đêm ngày trong chánh niệm
Thì Mâu Ni gọi là
Ngưòi Biết Sống Một Mình.


  Chú tiểu Lâm đứng ngoài cửa sổ nhìn một cách say mê và đầy khao khát vào nơi thầy thư ký đang đánh máy chữ. Tiếng đánh máy lách cách đều đặn của thầy có sức thu hút lạ kỳ đối với chú không chỉ bây giờ mà ngay từ những ngày đầu khi mới bước chân vào chùa. Ôi, tại sao những ngón tay của thầy lại lướt nhẹ nhàng, lanh lẹ trên bàn máy một cách tuyệt diệu như thế? Ðặc biệt là thầy không hề nhìn vào hàng chữ mình đánh, nhưng lại không sai sót một dấu nào. Nếu có sai thầy ngừng tay và sửa lại liền. Chú tiểu Lâm có cảm tưởng như thầy còn có con mắt thứ ba nào đó đang nhìn vào bàn máy nên biết rõ tất cả. Chú quyết tâm tìm cho ra nguyên nhân nào đã dẫn đến sự thành công này. Do vậy, cứ mỗi lần thầy đánh máy chữ là chú tìm cách đến bên cạnh để xem. Một hôm, chú vừa mon men lại chỗ thầy làm việc, thầy có vẻ không bằng lòng và hỏi:
      - Sao chú không học kinh, lại đây làm gì?
      - Dạ, con xem thầy đánh máy.
      - Chú nên nhớ, người lịch sự không bao giờ đứng ngó người khác làm việc như vậy.
   Mặt chú hơi đỏ vì “quê”.
      - Bạch thầy, không phải con tò mò về nội dung bài thầy đang đánh máy mà con muốn tìm hiểu về phương pháp đánh máy chữ của thầy.
      - Biết vậy rồi. Dù sao tình ngay nhưng lý vẫn gian. Lần sau chú không nên hành động như thế. Nếu chú muốn học thì cứ nói, tôi sẽ dạy cho.
      - Mô Phật, xin thầy hoan hỷ thứ lỗi và xin thầy chỉ dạy cho con học.
   Thầy gật đầu đồng ý. Chú tiểu Lâm cáo từ và lẳng lặng đi ra. Tuy hơi “quê” khi bị thầy chỉnh nhưng dù sao chú cũng nhận ra khuyết điểm và coi đó là một bài học đáng nhớ.
   Từ đó chú tiểu Lâm ngày đợi đêm mơ tính từng ngày một. Thế nhưng thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, đã hơn hai mươi ngày rồi mà thầy thư ký chưa đếm xỉa gì đến việc “cầu pháp” của mình. Ðã vậy, mỗi lần gặp thầy chú định nhắc lại lời thầy hứa và xin chỉ dạy nhưng dịp may đã chẳng đến. Tuy nhiên, sự thờ ơ và im lặng của thầy vẫn không làm giảm sút ý chí cầu học và trái lại càng tăng thêm lòng kiên nhẫn của chú. Một hôm thầy đang ngồi làm việc, chú Lâm đến bên cạnh chắp tay thưa:
      - A Di Ðà Phật, bạch thầy.
   Thầy ngó ngoái lại và hỏi:
      - Có việc chi không chú?
      - Hôm trước thầy hứa dạy con đánh máy chữ.
      - À, à, thế hả! Vậy chiều nay tôi sẽ dạy.
      - Bạch thầy, vào lúc mấy giờ ạ?
      - Khoảng hai giờ chú sang đây.
   Suốt buổi trưa hôm đó, chú tiểu Lâm không thể chợp mắt được. Hết nằm lại ngồi thấp thỏm chờ đợi, chốc chốc chú lại nhìn đồng hồ. Chú càng mong muốn cho thời gian ngắn lại bao nhiêu thì nó lại càng dài ra bấy nhiêu. Sốt ruột quá, mới hơn một giờ rưỡi chú đã đến trước phòng thầy thư ký ngồi chờ, nhưng mãi đến hai giờ rưỡi thầy mới mở cửa cho chú vào.
   Lúc này, trước mặt chú trên bàn là chiếc máy đánh chữ, bên phải là tờ giấy mẫu với những chữ ưưư, ơơơ, ơươ... và một số chữ khác cũng sắp xếp theo kiểu tương tự. Thoạt tiên thầy nói sơ qua về cách sử dụng máy. Kế đến thầy hướng dẫn chú đặt 8 ngón tay trên 8 chữ nhất định ở hàng chữ thứ ba từ trên đếm xuống, còn hai ngón cái dùng vào việc nhấn cách khoảng giữa từ này với từ khác. Sau khi nắm rõ ngón nào đặt trên chữ nào rồi, thầy không cho chú nhìn vào máy nữa, trong lúc đánh chỉ nhìn vào tờ giấy mẫu. Sau khi đánh xong một hàng chú mới được phép nhìn những chữ đã đánh để kiểm tra lại xem đúng sai thế nào. Vì tay còn cứng vả lại chưa quen nên chú đánh hay bị lộn và nhảy chữ lung tung. Tuy nhiên chỉ mười lăm phút sau chú đã khá thuần và xin thầy học qua chữ mới. Thầy hỏi:
      - Chú thuộc kỹ chưa?
      - Bạch thầy thuộc kỹ rồi ạ.
      - Bây giờ tôi kiểm tra lại nhé?
      - Mô Phật.
      - Nếu đúng thì tôi dạy chữ mới, còn sai thì chú tiếp tục tập cho đến khi nào thuộc thì thôi. Ðồng ý chứ?
      - Mô Phật.
   Chú tiểu Lâm mặc dù đã tự tin nơi khả năng của mình, nhưng khi nghe thầy ra điều kiện như vậy cũng hơi hồi hộp. Trước khi dò, thầy hỏi lại:
      - Chuẩn bị chưa?
      - Bạch thầy rồi.
   Vừa dứt lời thầy đọc thật nhanh:
      - ươư cách ơươ cách ưươ cách ơơư cách ......
   Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần nhưng tay chú Lâm vẫn quíu lại, đánh lộn xà ngầu lên. Xong một hàng thầy hỏi chú:
      - Bây giờ tôi đọc lại cho chú dò xem có sai chỗ nào không?
   Sau khi đọc xong, chú đáp:
      - Bạch thầy có sai.
      - Nhiều ít?
      - Dạ khá nhiều.
   Thầy mỉm cười:
      - Vậy là chưa thuộc rồi. Tập lại đi thôi và chú nên nhớ là học làm sao từ chưa thuộc mặt chữ đến thuộc làu, đánh làm sao cho từ chậm đến thật nhanh.
   Chú Lâm dạ rồi tiếp tục học. Ðến lần thứ hai, thứ ba cũng vậy. Qua lần thứ tư chú mới nhuần nhuyễn thuộc làu. Học xong hai chữ ư, ơ, thầy nói:
      - Thôi hôm nay học bấy nhiêu đủ rồi.
   Chú Lâm ngước lên nhìn thầy có vẻ khẩn khoản:
      - Xin thầy dạy con học thêm ít chữ nữa. Giờ này còn sớm lắm.
      - Từ từ mà học. Ăn cái gì cũng phải cho nó có thời gian tiêu hóa nữa chứ. Coi chừng “dục tốc bất đạt” đấy.
   Chú lưỡng lự chưa muốn rời khỏi bàn máy:
      - Bạch thầy, học như vậy biết chừng nào con mới đánh được như thầy?
   Thầy hơi nhếch môi cười. Tâm lý nôn nóng của chú Lâm chẳng khác gì thầy trước kia. Thích cái gì là muốn làm cho bằng được. Thầy nhắc nhở:
      - Chú biết không, lúc trước tôi thấy người ta nói chuyện với người nước ngoài bằng tiếng Anh, tôi rất mê và ao ước nói được như vậy. Khi vào trường học, giáo sư dạy chậm quá, vì nôn nóng muốn nói được ngay nên tôi về nhà học thêm từ mà không để ý đến văn phạm. Ðến khi học lên cao, chữ thuộc nhiều nhưng văn phạm mất căn bản. Thế là tôi nói sai bét hết. Quay trở lại học lớp thấp thì ngại, mà học tiếp lên cao thì không hiểu. Cuối cùng tôi đã phải bỏ ngang. Thế đó chú, việc học cũng chẳng khác việc tu hành đâu, vì tất cả pháp đều là Phật pháp. Muốn sáng tỏ một vấn đề gì phải chuyên chú và quán triệt nó một cách rốt ráo. Có được như vậy việc tu hay học của chúng ta mới đỡ vất vả và sự thành công sẽ vững chắc hơn.
   Nghe thầy nói có lý, chú Lâm vui vẻ đứng dậy chắp tay xá chào lui ra. Từ đó mỗi buổi chú học khoảng một giờ và thuộc từ hai đến bốn chữ. Sau mỗi buổi học, những lúc rảnh rỗi chú gợi lại những chữ đã học và nhịp nhịp ngón tay như là mình đang ngồi đánh trước bàn máy. Do chuyên tâm như vậy, khoảng ba tháng sau chú đã đánh thông thạo không thua kém gì thầy.
   Một hôm chú đang ngồi đánh máy một cách say mê. Những ngón tay thoăn thoắt lướt nhẹ trên bàn máy và tiếng đánh máy liên tục dòn như bắp rang. Chợt tiếng thầy thư ký vang lên khi bước vào phòng:
      - Chu choa, hôm nay đánh máy khá quá!
   Lúc đó chú Lâm rùng mình vì lời khen của thầy. Bây giờ chú mới nhận ra mình đã đạt đến trình độ khá cao. Thật xứng đáng với lòng kiên nhẫn học tập của chú. Có đôi lần đánh máy, chú thấy dường như thân tâm mình đã hòa cùng chiếc máy thành một dòng trôi chảy liên tục, lúc ấy ý thức không còn phân biệt như trước nữa. Chú đánh máy mà không còn thấy mình đánh máy. Từ bài học kinh nghiệm thực tế này, chú nghĩ đến pháp môn Tịnh độ trì danh hiệu Phật. Nếu mỗi ngày mình chịu khó huân tập chủng tử Phật danh, thì chắc chắn không bao lâu sẽ đạt đến nhất tâm bất loạn. Lúc ấy niệm đã thuần thục rồi thì khi niệm mà không thấy mình niệm, không niệm nhưng vẫn niệm. Chú mỉm cười sung sướng vì nhận ra được chân lý này và nói:
      - Ðúng là “Tất cả pháp đều là Phật pháp”.


 Mít là một cậu bé xinh xắn, nghèo nàn, đang vội vã băng qua những đường phố náo nhiệt về nhà. Đường phố thì ồn ào và đông đúc các loại xe hơi, xe buýt và khách bộ hành. Mùi thơm phảng phất đâu đây của món ăn Đông phương bay trong bầu không khí buổi chiều. 
   Cuối cùng, cậu đã đến chỗ có ánh sáng trắng chiếu trên tấm bảng “người cho mượn tiền”.
   Mít mở cửa ra, gặp ông chủ là người mập mạp, có khuôn mặt to và cái miệng tí xíu. Ông đang ngồi ở trên chiếc bàn giấy.
   - Chào cậu bé!
   - Kính chào bác ạ! 
   - Cháu cần việc gì?  
   Mít hít một hơi thật dài: 
   - Cháu muốn nhờ bác giúp đỡ cho cháu mượn một số tiền! 
   - Tôi biết rồi! Ông đưa tay chà lên mặt với những chiếc nhẫn quý đeo nơi ngón tay mập bự.
   Cậu bé đặt tay vào trong túi áo dơ bẩn và mỏng manh của mình, rồi nói:
   - Cháu cần tiền thưa bác! 
   Ông chủ cười:
   - Tất cả chúng ta ai mà không cần tiền hở chú bé?
   - Một số người cần tiền hơn những người khác, thưa bác! 
   - Đúng! Đó là sự thật nhưng tôi là một thương gia và nếu cho cháu mượn tiền, ít ra tôi phải nắm chắc cháu có thể trả lại số tiền ấy hay không?
   - Thưa bác! Cha cháu đã từ trần, hiện mẹ cháu đang đau nặng. Mỗi tuần cháu làm việc chỉ được có 10 đồng tiền công. Cháu phải đưa mẹ tới vùng núi để an dưỡng, vì bác sĩ nói bà sẽ trở nên khá hơn khi sống ở trên đó. Cháu hứa sẽ cố gắng làm việc thật chăm chỉ và hoàn trả số tiền mà bác cho cháu mượn. Cháu sẽ trả lại rất mau bác ạ!
   Ông chủ nhìn cậu bé. Cậu đang thở một cách nặng nề. Cậu khao khát và hồi hộp. Ông chủ cảm thấy thương hại cho đứa trẻ, nhưng sự buồn lo là điều không tốt đối với người doanh thương. Ngày qua ngày, những ý nghĩ đó đã là một trận đấu tranh sâu sắc trong lòng ông. Người ta đến văn phòng ông toàn là những người nghèo khổ, nghèo kinh khủng. Nhiều lần, ông muốn cho và giúp đỡ họ, nhưng ông lại luôn luôn chống trả ý nghĩ này. Ông tự nhủ: “Ta là người cho mượn tiền, không phải là người cho tiền không người khác”.
   - Cháu à, ta không thể giúp cháu được đâu! 
   Mít nhìn ông và cặp mắt đẫm lệ.
   - Cháu tên gì?
   - Thưa bác, tên của cháu là Mít ạ!
   - Thế Mít, cháu có ít tiền nào không? 
   - Dạ có, 10 đồng. Cháu vừa mới lãnh lương xong! 
   - Mít, cháu có biết xổ số là gì không? Cháu có biết những tấm vé số ra sao không? Đây là một tấm vé số với các con số trên đó. Tuần sau sẽ xổ số, nếu tấm vé số của cháu có những con số trúng, cháu sẽ lãnh được 500 ngàn đồng. Với tấm vé số này, cháu hy vọng trúng tất cả số tiền ấy!
   - Cháu sẽ hy vọng trúng! Nhưng thưa bác, đó là một hy vọng mờ ảo. Mười đồng của cháu có nghĩa là sự sống hằng ngày, nếu còn lại chỉ 5 đồng cháu sẽ làm được gì đây?
   - Nghĩ kỹ đi cậu bé! Đó là một cơ hội tốt để giúp đỡ mẹ cháu!
   - Nhưng cháu sẽ nói thế nào với mẹ khi cháu chỉ còn 5 đồng thôi? – Mặt cậu bé tỏ vẻ lo lắng khi nghĩ về những câu hỏi khó khăn này. 
   - Cháu có thể nói rằng cháu đã đánh mất nó! 
   - Như vậy, cháu phải nói dối với mẹ rồi! 
   - Cháu Mít ạ! Thỉnh thoảng, một người được nói láo ngay cả đến người yêu của mình nếu nguyên nhân là tốt, nếu đó là một lý do chính đáng.
   Mít rờ thấy hai tờ giấy bạc 5 đồng dơ bẩn trong túi của mình. Đây là công lao của việc làm suốt một tuần, thức ăn của cả một 
tuần, đem đổi lấy một tấm giấy màu này. 
   - Bác cho cháu tấm vé số ấy!
   Ông chủ, với bàn tay trắng mềm đưa qua chiếc bàn giấy. Mít có thể thấy những số mà nó sẽ đem đến trong giấc mơ của cậu: 012639. Tờ giấy bạc 5 đồng được rút ra khỏi túi và thay vào đó là tấm vé số.
   Mít sống trong phần đất nghèo nàn nhất của tỉnh, chạy dài xuống phía dưới con sông. Những căn nhà được làm bằng loại thùng thiếc đựng dầu và các loại thùng gỗ. Ở đó, có những mùi thật khủng khiếp. Ba người đàn bà đang cãi lộn. Hai người đàn ông đang chơi cờ phía dưới ngọn đèn dầu mờ nhạt. Một ông khác đang ăn ngấu nghiến trong khi một con chó cũng vừa chạy vào bóng tối mang theo mảnh thức ăn rớt từ cái đĩa của ông.
   Mít mở cửa nhà. Mẹ cậu mỉm cười, gương mặt xinh đẹp của bà trước đây giờ đã trở nên gầy gò và trắng nhợt. 
   - Mít đấy à, con về hơi trễ đấy! 
   - Vâng, con đã đi trở lại nơi làm việc hai lần! 
   - Tại sao vậy hả con? 
   - Con bị mất 5 đồng, có lẽ con đã đánh rớt nó ở đâu đó! 
   - Ồ Mít! – Bà sắp nói một cách giận tức với con, nhưng gương mặt trẻ trung của cậu lộ vẻ hoảng sợ. Mít là một đứa trẻ ngoan ngoãn, làm việc rất chăm chỉ mới kiếm được số tiền đó – Thôi được, chúng ta cố gắng sắp xếp việc nhà sao cho ổn thỏa là được. Con đến dùng cơm luôn đi!
   Mít ngồi ăn cơm trên chiếc hộp cũ mèm và nghĩ thầm: “Ta sẽ không bao giờ nói láo với mẹ nữa”. 
   Buổi sáng, cậu giấu tấm vé số vào trong tấm hộp thiếc đen nhỏ chứa đựng những bảo vật. Những bảo vật này gồm có: một tấm hình của cậu chụp chung với một anh thủy thủ và một chiếc nhẫn mà cậu đã lượm được trên đường. Đó là chiếc nhẫn tuyệt đẹp. Viên đá quý bên trong nó chiếu sáng lấp lánh khi đưa ra ánh sáng mặt trời. Đối với Mít, nó là một vật đẹp, món sở hữu quý báu nhất. 
   Những ngày kế đó, cậu sống trong tình trạng lo âu bồn chồn, chờ đợi kỳ xổ số. Mỗi thứ ba đều có xổ số tại rạp hát.  Nếu có vé số, bạn có thể đi vào đó dò xem. Cầm tờ vé số trong tay, Mít nhập vào đám đông đi vô rạp hát. Có sáu cái trống (thùng tròn), mỗi cái đều có những số trên đó. Một người đàn ông to lớn trong chiếc áo đỏ ra dấu và sáu cậu bé với trang phục màu xanh bước ra phía trước. Mỗi cậu đi đến một cái trống. Sáu cậu bé này cầm hy vọng của hàng ngàn người. Ông to lớn ra dấu, cậu bé thứ nhất quay cái trống.  Trống được đà quay rất nhanh khiến không ai có thể nhìn thấy số được. Rồi nó đi chậm lại: 9, 8, 7, 6 chậm hơn: 5, 4, 3, 2, chậm nữa: 0 và nó dừng lại. Đó là số đầu tiên trên tấm vé số của Mít. Rồi cậu bé thứ hai tiếp tục và nó ngưng ở số 1. Mít thì thầm cậu nguyện. Cậu bé thứ ba lại quay tiếp, nó ngừng ở số 2. Còn ba số nữa mẹ mình sẽ sống trên núi suốt đời. Mít cầu nguyện chiếc trống thứ tư đã ngưng ở số 5. Cậu khóc lên và chạy ra khỏi rạp hòa vào phố xá. 
   Chiều tối, cậu xem báo và đọc những số trúng, cậu thấy không trúng gì hết. Không có gì cả, chiếc vé của cậu không còn giá trị nữa. 
   Lúc đó, cậu quyết định bán chiếc nhẫn. Cậu nghĩ: ta có thể nhận 5, 10 đồng hoặc 20 hay có lẽ 100 đồng với chiếc nhẫn này, hay có thể 1000 đồng. Nó là chiếc nhẫn đẹp, chiếu lấp lánh như ánh lửa ngoài nắng. Một người nào đó có thể đánh lừa ta và trả giá rẻ hơn so với giá trị của nó. Ông chủ tiệm hẳn sẽ biết rõ về chiếc nhẫn này. Cậu bèn chạy đến cửa tiệm của người cho mượn tiền. Ông chủ đang đóng cửa tiệm thì ngay khi ấy, cậu cũng bước tới.
   - Chào cậu bé! Ta hy vọng cháu đến 
đây với những tin tốt đẹp!
   - Thưa bác, cháu chẳng được gì hết, ngay cả một số tiền nhỏ nhất, cháu không trúng gì cả. Cháu sẽ cố gắng làm việc và cháu sẽ làm việc cho đến khi nào dành dụm được 5000 đồng để mua một mảnh đất nhỏ trên núi. Rồi cháu sẽ xây một căn nhà bằng đá cho mẹ cháu. Cháu sẽ làm việc trên cánh đồng ấy cho đến khi làm chủ nó. Mẹ cháu sẽ trở nên khỏe mạnh như cũ!
   - Vậy giờ cháu muốn gì nữa? 
   - Thưa bác! Cháu có một chiếc nhẫn mà cháu lượm được lâu rồi. Một chiếc nhẫn tuyệt đẹp. Cháu phải bán nó đi và không biết nó đáng giá bao nhiêu?
   Mít đưa chiếc nhẫn ra ánh sáng cho nó chiếu. 
   - Ồ! nó thật tuyệt, đẹp quá! Cháu đã gặp nó ở đâu vậy? 
   - Cháu đã gặp nó ở trên con đường đi về 
phía những con tàu! 
   - Cậu bé thân yêu của tôi ơi! Chiếc nhẫn này thuộc về vợ tôi và trước đó nó là của mẹ vợ tôi. Tôi đã hứa là sẽ trả 5000 đồng cho bất kỳ ai tìm thấy nó. 
   Ông chủ lấy một chiếc chìa khóa và mở tủ sắt kiên cố của mình. Mít thì rất ngạc nhiên về việc giàu có một cách quá đột ngột của mình như thế. Mẹ cậu có thể sống trên núi, không khí tươi mát sẽ làm cho bà khoẻ trở lại. Cậu nhìn ông chủ đếm 50 tờ giấy 100 đồng. 
   - Tiền đây, bây giờ cháu hãy đưa cho ta chiếc nhẫn!
   Đó là chiếc nhẫn đẹp chiếu lấp lánh như lửa khi đưa ra ngoài ánh sáng.
   - Cám ơn bác, cám ơn bác nhiều. Cháu phải chạy về nhà gấp và nói với mẹ cháu biết, ngày mai cháu và mẹ lên núi sống và ở trên đó.
   - Chúc cháu được nhiều hạnh phúc!
   Sau khi bắt tay, cậu bé cáo từ và khuất dạng vào bóng đêm.
   Ông chủ đóng cửa tiệm lại và đứng ở phía ngoài một lát. 
   Một chiếc xe rác đi qua, thu gom những thứ dơ bẩn từ các căn nhà. Ông quăng chiếc nhẫn vào trong xe rác. Rồi băng qua đường đi tới tiệm cà phê, nơi mà hằng đêm ông thường đến đó để ăn bữa cơm chiều đơn độc.
   Trong những buổi chiều dài lê thê lẻ loi ấy, ông nghĩ rằng, lẽ ra mình đã có vợ rồi thì phải.



  Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vặc, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.
     Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi, kẻ cắp tìm không ra của cải gì, lúc sắp sửa bỏ đi, thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ở cổng. Ngài chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm sẵn trong tay.
     Kẻ cắp đang trong lúc kinh ngạc bối rối, thì Thiền sư nói:
      - Từ đường rừng núi xa xôi, cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không! Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!
     Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Hắn ta lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng.
     Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi, thiền sư không khỏi cảm thương liền khẳng khái thốt lên:
      - Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.
     Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào am tranh ngồi thiền, ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà.
     Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng, ấm áp của ánh trăng, từ trong buồng thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra, nhìn thấy chiếc áo ngoài mà ngài đã khoác lên người kẻ cắp được gấp gọn gàng, tử tế, đặt ở cửa. Vô cùng sung sướng, thiền sư lẩm bẩm nói:
      - Cuối cùng ta đã tặng cậu ấy một vầng trăng sáng.
LÂM THANH HUYỀN
(Theo Kinh điển truyện ngắn cực ngắn...)
 Người dịch: VŨ CÔNG HOAN
 

Trong 49 năm thuyết pháp, tùy theo căn cơ chúng sinh, đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni chỉ dạy tám vạn bốn ngàn pháp môn tu. Trong đó, pháp môn niệm Phật không ai hỏi mà Phật tự thuyết.


Niệm Phật là niệm danh hiệu Phật A-di-đà. A-di-đà có 3 nghĩa là Vô lượng thọ, Vô lượng quang và Vô lượng công đức. Vô lượng công đức là công đức nhiều không thể nghĩ bàn, Vô lượng thọ là sống lâu không thể tính đếm, và Vô lượng quang là ánh sáng vô lượng, chiếu soi cùng khắp.

Mặt trời có thể chiếu đến tất cả nơi, nhưng những chỗ bị che chắn thì ánh sáng không thể xuyên thấu. Song, ánh sáng của Phật lại khác, không những soi chiếu khắp nơi, mà còn có thể soi thấu đến tận hang cùng ngõ hẻm, cả những nơi tối tăm nhất như địa ngục A-tỳ.

Người niệm Phật, nhớ Phật nhất định sẽ thành Phật. Khi chuyên tâm niệm Phật từ ngày này qua ngày khác, chúng ta sẽ được Phật A-di-đà nhiếp thọ, khiến căn lành tăng trưởng, nghiệp chướng tiêu trừ, si mê chuyển thành trí tuệ, phiền não chuyển thành Bồ-đề. Đây gọi là tha lực gia hộ của Phật.

Niệm Phật là nhớ đến đức hạnh từ, bi, hỉ, xả của Ngài, noi gương Ngài làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Khi niệm Phật, những điều xấu dần dần rơi rụng, điều tốt mỗi lúc lớn thêm. Ai trong chúng ta cũng đều có tâm niệm tốt và tâm niệm xấu. Tâm niệm xấu dễ phát sinh giống như dòng nước chảy xuôi. Tâm niệm tốt thì ngược lại. Một khi tâm niệm tốt nổi lên thì tâm niệm xấu lặn xuống. Do đó, để duy trì tâm niệm tốt, chúng ta cần phải tỉnh giác, luôn niệm Phật.

Phật Thích-ca vì thương chúng sinh nên nói ra pháp môn niệm Phật. Ngài huyền kí trong kinh Đại Tập: “Đời mạt pháp ức ức người tu hành, khó có người nào đắc độ, chỉ nương pháp môn niệm Phật mà thoát luân hồi”.

Lời Phật dạy quả thật không sai. Từ xưa đến nay, có biết bao người niệm Phật được vãng sinh về cõi Phật. Khi Phật Thích-ca thuyết pháp môn niệm Phật, mười phương chư Phật đều khen ngợi Ngài làm việc khó làm, đã ở đời ác ngũ trược tu hành đắc đạo, chỉ dạy chúng sinh pháp môn thẳng tắt, nhiệm mầu. Do vậy, pháp môn này đều được tất cả chư Phật hộ niệm, tán thán.

Phật A-di-đà khi còn là Tỷ-kheo Pháp Tạng, Ngài đã phát ra 48 đại nguyện cứu độ chúng sinh. Khi công thành quả mãn, Ngài thành Phật hiệu A-di-đà, là giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Vì thương xót chúng sinh trầm luân trong sinh tử, Phật Thích-ca đã giới thiệu cảnh giới Tây Phương hạnh phúc an vui để chúng sinh thú hướng.

Người niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, khi lâm chung, Phật A-di-đà sẽ đến tiếp dẫn người đó vãng sinh Tịnh độ. Mười phương thế giới có hằng hà sa số chư Phật, chỉ có Phật A-di-đà phát 48 đại nguyện thù thắng tiếp dẫn chúng sinh về nước của Ngài.

Niệm Phật là nhớ đến Phật, nhớ Phật thì không bị lục trần chi phối, tâm dần được an định, trí tuệ phát sinh. Đức Phật có đầy đủ Tứ vô lượng tâm. Tất cả chúng sinh đều có như Ngài. Sở dĩ chúng ta chưa sống được với Tứ vô lượng tâm ấy vì tâm chúng ta đang bị vô minh che đậy, cũng giống như tấm gương sáng bị bụi phủ đầy, nên quang minh chưa hiển lộ. Nay biết niệm Phật, gạn lọc những ý nghĩ xấu, tâm luôn nhớ Phật, nhớ đến hạnh nguyện cao cả của Ngài thì chúng ta sẽ dần đồng với Ngài.

Niệm Phật sẽ được an lạc trong hiện tại và tương lai, vì nhớ Phật thì tâm sinh hoan hỷ. Nếu nhớ đến ngũ dục thì sẽ bị chúng lôi cuốn, làm ta chao đảo, mất tự chủ.

Tất cả những gì có hình tướng đều là giả tạm, không thật. Vậy nên, Phật dạy chúng ta luôn nhớ Phật niệm Phật để mau được thành Phật. Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết, nước dưới sông có lúc đục lúc trong, con người có đoàn tụ tất phải chia ly, có sinh ắt có tử. Do đó, muốn thoát luân hồi khổ, phải gấp niệm Di-đà. Chỉ cần tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên, người niệm Phật sẽ được an lạc trong hiện tại, tương lai chắc chắn sẽ được vãng sinh…
Thích Tâm Hoàng
Copyright © 2012 Phật Học - Kiến Thức Phật Học - Phật Học Và Tuổi Trẻ - Video Phật Học.