Học và Tu
... Biết căn bản và phương tiện Niệm Phật rồi, mới biết đầu tiên từ phàm phu phát tâm trải qua Tam Hiền, Thập Thánh cho đến thành Phật, đều phải niệm Phật, đều do niệm Phật. Bởi vì niệm Phật và chẳng niệm Phật là phân ranh giới giữa Phật và ma, là hai đường tịnh nhiễm. Chẳng những tất cả hữu tình do học Phật để cầu thành Phật đều chẳng rời niệm Phật mà cho đến Đức Phật quá khứ, hiện tại trong khắp mười phương độ khắp chúng sanh cũng chẳng lìa niệm Phật...
Học, lấy Minh tâm làm
thiết yếu.
Tu, lấy niệm Phật làm
ổn đáng.
Luận Khởi Tín ghi :
"Nói Tâm chúng sanh ắt thu nhiếp hết tất cả Pháp thế gian và xuất thế
gian". Vì tất cả Pháp đều do tâm duyên khởi, y trì nơi tâm.
Bởi tâm có đặc tính:
1.
Có khả năng hoạt động liễu tri.
2.
Có khả năng bảo tồn kinh nghiệm (nhận lấy sự huân tập và giữ gìn chủng tử).
Do hoạt động liễu tri
nên hay duyên khắp tất cả các pháp hữu vi, vô vi, hữu lậu, vô lậu hiện tiền, Do
bảo trì kinh nghiệm nên hay nhớ lại những việc đã qua và suy tưỡng đến cái lý
vị lai.
Tứ Thánh, Lục phàm đều
từ tâm tạo, mười phương ba đời đều đủ nơi tâm, cho nên Minh tâm thì minh hết
tất cả các Pháp. Minh tâm thì minh hết tất cả các Pháp, vì thế Phật tuy nói
khắp các Pháp, rộng thì vô lượng vô số, gom lại sơ lược thì ba tạng, mười hai
bộ đều chẳng ra ngoài tâm này. Nói về tâm này cũng chính là giảng nói chỗ thiết
yếu hơn hết trong tất cả học lý của Phật Pháp. Nếu mình đạt được tâm này thì
thấy tất cả sắc đều thấy tâm này, nghe tất cả tiếng đều nghe tâm này. Ba tạng,
mười hai bộ, một ngàn bảy trăm công án cũng không phải việc gì khác, cho nên
nói: "Pháp giới duy tâm".
Minh tâm tức là minh
các Pháp, cho nên tâm không có Thể mà lấy Thể của các Pháp làm Thể. Thể của các
Pháp thanh tịnh bổn nhiên Chân biến thường trụ cho nên Thể của tâm cũng thanh
tịnh bổn nhiên chân biến thường trụ, Gọi đó là chân như pháp tánh. Tâm không có
Tướng mà lấy Tướng của các pháp làm Tướng. Tướng của các pháp hàm dung quảng
đại, nhiếp nhập giao la, nên Tướng của tâm cũng hàm dung quảng đại, nhiếp nhập
giao la, gọi đó là Như Lai Đức Tạng. Tâm không có mà lấy Dụng của các pháp làm
Dụng. Dụng của các pháp chủng tử và hiện hành sanh nhau duyên khởi vô tận cho
nên Dụng của tâm cũng chủng tử hiện hành sanh nhau duyên khởi vô tận, gọi đó là
nhân quả Thánh phàm.
Thể, Tướng, Dụng của
tâm tức là Thể, Tướng, Dụng của tất cả các pháp, cho nên Thể, Tướng, Dụng của
tâm không chỗ nào chẳng có, không chỗ nào chẳng đủ, không chỗ nào chẳng quán
triệt, không chỗ nào chẳng thông suốt, sở dĩ Thể đại, Dụng đại, Tướng cũng đại
mà ở tại người tức là người, chẳng phải tìm cầu ở đâu khác, gọi đó là tâm Phật
cũng được, tâm chúng sanh cũng được, gọi đó là tâm người cũng được. Lìa cái tâm
hiện tiền mà riêng cầu tất cả Pháp, gọi đó là ngoại đạo. Lìa tất cả Pháp hiện
tiền mà riêng cầu nhất tâm cũng gọi đó là ngoại đạo. Tất cả Pháp đều lấy Chân
như làm Thể tánh, cho nên Thể tánh của tâm tức là Chân như mà Thánh phàm, nhiễm
tịnh, thiện ác, nhân quả đều tịch diệt thường như. Tất cả Pháp đều lấy sanh
diệt làm tướng dụng, cho nên tướng dụng của tâm tức là sanh diệt mà Thánh phàm,
nhiễm tịnh, thiện ác, nhân quả đều duyên sanh vô tánh. Đây gọi là Nhất tâm Chân
như sanh diệt, cũng gọi là Chân như sanh diệt Nhất tâm. Tôi nói:" Lấy
Minh tâm làm thiết yếu, ý nghĩa đại khái như vậy”.
Phật hiện thân thuyết
Pháp đều vì tất cả các loài hữu tâm ở thế gian mà khai thị ngộ nhập tri kiến
Phật, cho nên đều do giải khởi hạnh, do hạnh được chứng. Giải mà chẳng có hạnh
thì thành hiểu suông, chứng mà không có hạnh thì không do đâu thật chứng, cho
nên nói trong Phật Pháp Tín, Giải, Hạnh, Chứng thì hạnh được trọng hơn hết và
không có không được. Nhưng Hạnh môn vô lượng, nói sơ lược thì có tám muôn bốn
ngàn Pháp môn đối trị phiền não, cùng với các nghi quỹ trì tụng chân ngôn trong
Mật giáo, năm mươi ba vị Thiện tri thức trong Kinh Hoa Nghiêm, mỗi vị do một
môn để thành giải thoát, hai mươi lăm vị vô học trong Kinh Lăng Nghiêm, mỗi vị
do một môn để chứng viên thông, cho đến Pháp giới quán của Đế Tâm (Đỗ Thuận)
chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật của Tổ Đạt Ma và các Pháp quán chung
của Đại thừa, Tiểu thừa như: Bất tịnh quán, Từ bi quán, Duyên khởi quán, Sổ tức
quán, Niệm Phật quán, v.v... không Pháp nào chẳng phải là diệu môn tu hành, tại
sao nay chỉ riêng nói tu hành lấy niệm Phật làm ổn đáng ?
Ở đây, trước hết cần
phải biết tông chỉ của Phật pháp, kế đó phải biết Phật nghĩa là gì ?
Phải biết các Đức Phật
xuất thế chẳng làm gì khác hơn là chỉ vì tất cả chúng sanh ngu muội không biết
mình bổn lai là Phật, cứ mải mê mà bất giác, ở trên tự tâm biến ra các thứ thân
căn, cảnh giới, khởi hoặc tạo nghiệp, theo nghiệp lưu chuyển sanh tử luân hồi
không dứt, chịu sự nhọc nhằn cay đắng một cách oan uổng, các Ngài nương vào đại
bi hoằng nguyện, bày các phương tiện làm cho tất cả chúng sanh đề từ trong tự
tâm khai phát vô lượng chánh biến tri, thọ dụng bình đẳng, diệu lạc đồng như
Phật, đó là tông chỉ của Phật Pháp.
Kế đó, phải biết Phật
chẳng đồng Thiên thần, Địa kỳ, Nhân quỷ, chỉ là người trong chúng ta và tất cả
chúng sanh đã thành tựu Vô thượng Biến chánh giác. Chúng ta từ trong Phật Pháp
tu hành là phát tâm học Phật thành Phật, chứ không phải phát tâm học Thiên
thần, Địa kỳ, Nhân quỷ. Sở dĩ tiêu chuẩn của chúng ta chỉ tại học Phật, mục
đích của chúng ta chỉ tại thành Phật, một giây phút nào trong tâm quên học Phật
và thành Phật tức là quên đi cái tiêu chuẩn phải nương vào cái mục đích phải
đạt đến. Niệm nghĩa là chẳng quên, tâm tâm trì niệm nơi Phật mà chẳng quên thì
tự nhiên tất cả các cử chỉ nói năng động tác đều hướng về con đường tu hành mầu
nhiệm của Vô thượng Bồ-đề. Tạm thời có giây phút nào quên niệm Phật tức là hốt
nhiên bất giác, vô minh tâm động ắt có khổ, tự mê phương hướng, không biết đông
tây, dở chân cất bước không biết như thế nào là tốt. Nói một cách khác, một
phút giây quên niệm Phật tức là quên tâm Bồ-đề đã phát thì không luận là tu
thắng hạnh nào đều chỉ thành nhân quả hữu lậu của Người, Trời, Ma, Phạm và nhân
quả của Thanh văn, Duyên giác, quyền thừa. Duy có niệm Phật là có thể tổng trì
tất cả thắng hạnh hướng về Phật quả Bồ-đề và khiến cho tất cả sở hành đều hướng
về Bồ-đề, tuyệt không sót lọt, tuyệt không có lối tẻ lui sụt, cho nên tu hành
lấy niệm Phật làm ổn đáng hơn hết.
Điều vừa nói trên là
căn bản niệm Phật. Đức Thế Tôn còn có phương tiện khéo léo, vì thương xót các
loài hữu tình tạp tưởng lăng xăng, bị các thứ khổ bứt ngặt, tuy biết cái nghĩa
niệm niệm chẳng quên Phật mà chưa có thể thật sự được niệm niệm chẳng quên Phật
thân thiết tương ưng, một phen vô thường đến chưa khỏi theo Nghiệp lưu chuyển
nên Ngài mới dạy Pháp môn niệm Phật A-di-đà cầu sanh Cực Lạc Tịnh Độ, nhờ nương
vào nguyện lực A-di-đà, lâm chung được sanh về Cực Lạc, được cùng Chư Phật, Bồ
tát ở chung một chỗ, thắng duyên tăng thượng, làm cho tâm tâm niệm niệm chẳng
quên Phật thẳng lên Vô Thượng Chánh Giác, đây là rất ổn đáng trong ổn đáng vậy.
Biết căn bản và phương
tiện Niệm Phật rồi, mới biết đầu tiên từ phàm phu phát tâm trải qua Tam Hiền,
Thập Thánh cho đến thành Phật, đều phải niệm Phật, đều do niệm Phật. Bởi vì
niệm Phật và chẳng niệm Phật là phân ranh giới giữa Phật và ma, là hai đường
tịnh nhiễm. Chẳng những tất cả hữu tình do học Phật để cầu thành Phật đều chẳng
rời niệm Phật mà cho đến Đức Phật quá khứ, hiện tại trong khắp mười phương độ
khắp chúng sanh cũng chẳng lìa niệm Phật. Vì các Ngài đều niệm tất cả chúng
sanh bổn lai là Phật, do đó các Ngài mới hiện các thứ thân, nói các thư Pháp để
hoá đạo chúng sanh thành Phật. Giả sử các Ngài chẳng niệm tất cả chúng sanh bổn
lai là Phật thì chúng sanh vốn chẳng thể thành Phật, lại cần gì phải luống nhọc
mà hiện thân thuyết Pháp. Cho nên tự lợi, lợi tha từ đầu đến cuối đều chỉ là
một diệu hạnh Niệm Phật mà thôi.
Phật Pháp chẳng phải
nói xong là rồi, nghe xong là thôi, mà điều cần nhất là phải từ văn tư tu, dốc
lòng học hỏi, nỗ lực tu hành để tự đạt đến.
(Thái
Hư toàn thư)
Định Huệ dịch
0 nhận xét:
Đăng nhận xét